06/30/2022

Covid-19 thay đổi quan hệ lao động giữa con người và robot ra sao

Robot tồn tại khoảng 6 thập kỷ hoặc lâu hơn. Ban đầu, chúng là những thiết bị đơn giản và hoạt động theo những gì được cài đặt. Robot hoạt động trên dây chuyền lắp ráp với nhiệm vụ di chuyển mọi thứ xung quanh và ráp chúng lại với nhau.

Robot thường được đặt trong lồng, giống như những con vật trong vườn thú, để ngăn mọi người đến gần. Bởi nếu một người cản đường cánh tay robot đang hoạt động, họ sẽ gặp rắc rối.

Về sau, robot trở nên khéo léo, dễ di chuyển và tự động hơn rất nhiều. Chúng cũng dễ cộng tác hơn. Theo Liên đoàn Robot học Quốc tế, hiện có hơn 3 triệu robot đang làm việc trong các nhà máy trên toàn cầu. Hàng triệu robot khác đang vận chuyển hàng hoá quanh nhà kho, dọn dẹp nhà cửa, cắt cỏ và hỗ trợ bác sĩ phẩu thuật. Một số cũng bắt đầu giao hàng, ở cả đường bộ lẫn đường hàng không.

Theo các chuyên gia Hiệp hội vì sự tiến bộ khoa học Mỹ (AAAS), tốc độ tự động hóa có thể sẽ tăng tốc. Lý do đầu tiên là Covid-19 tạo ra những thay đổi xã hội có thể tồn tại lâu dài. Hàng triệu người trên khắp thế giới nghỉ việc, một phần do hệ quả của phong toả tạo nên những cơ hội mới cho công việc tại nhà. Cùng với đó, chuỗi cung ứng không ổn định và sự bùng nổ thương mại điện tử, khiến nhà kho và nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tuyển dụng người lao động.

Lý do thứ hai là các robot đang dần tốt hơn. Thay vì chỉ chuyển hàng hoá trong kho đến cho những người lấy hàng, để họ đóng gói và giao đến tận nhà cho khách, chúng đang học cách tự lấy và hoàn thiện đóng gói.

Robot Pepper robot, thường được dùng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, giáo dục, bán lẻ. Ảnh: EPA

Robot Pepper robot, thường được dùng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, giáo dục, bán lẻ. Ảnh: EPA

Trong các nhà máy, chúng đang rời khỏi lồng, được trang bị cảm biến tiên tiến và máy học, một dạng trí tuệ nhân tạo (AI), để làm việc cùng với con người. Những robot như vậy cũng sẽ ngày càng hữu ích nhiều hơn ở những nơi khác, bao gồm bệnh viện. Thậm chí, sau Covid, xã hội dần quen với tương lai chăm sóc sức khoẻ bằng công nghệ nhiều hơn, cùng với y học từ xa và các ứng dụng theo dõi sức khoẻ trên điện thoại di động.

Tuy nhiên, việc tự động hoá vẫn còn một chặng đường dài phía trước. Trong lĩnh vực sản xuất, các nhà máy sản xuất xe hơi dẫn đầu về tự động hoá. Nhưng theo Henrik Christensen, Giám đốc Viện nghiên cứu robot chuyên biệt tại Đại học California, ngay cả những nhà máy tiên tiến nhất trong số chúng – như những nhà máy ở Hàn Quốc – trung bình chỉ có khoảng một robot trên 10 công nhân. Cái gọi là nhà máy sản xuất xe hơi \”không sự sống\”, do không có con người trong nhà máy, vẫn là giấc mơ xa.

Tuy vậy, sự gia tăng robot khiến vài người lo sợ mất việc và thắc mắc cách kiếm sống sau này. \”Đây là câu hỏi hay. Tôi nhận được nó hàng tuần\”, Tiến sĩ Christensen cho biết. Theo ông, những công việc mà robot đảm nhận thường buồn chán, lặp đi lặp lại và vất vả. Với hậu Covid, những công việc như vậy ngày càng khó tuyển nhân viên hơn.

Trong nhiều ngành, mong muốn giảm chi phí lao động thúc đẩy quá trình tự động hoá ít hơn là sự khó khăn trong việc tuyển người lao động bằng xương bằng thịt. Theo đó, thay vì giành công việc, robot có thể tạo ra việc làm, bằng cách khiến việc kinh doanh hoạt động hiệu quả hơn, điều này cho phép các công ty mở rộng quy mô. Tiến sĩ Christensen cho biết, trong thập kỷ qua, việc làm trong lĩnh vực sản xuất ở Mỹ tăng lên, cùng với khi số lượng robot trong nhà máy tăng lên.

Có nỗi lo lắng tương tự trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ rằng, robot sẽ phá hoại công việc. Nhưng đây là chuyện hoang đường, theo tiến sĩ Michelle Johnson, Giám đốc phòng thí nghiệm robot phục hồi chức năng tại Đại học Pennsylvania. Ngay cả ở Mỹ, chứ đừng nói đến châu Phi, \”không có đủ bác sĩ lâm sàng để thực hiện công việc này\”, bà nói.

Tiến sĩ Johnson đặc biệt quan tâm đến vấn đề giúp mọi người phục hồi sau đột quỵ. Đôi khi, điều này đòi hỏi liệu pháp chuyên sâu trong thời gian dài, nhưng các hệ thống chăm sóc sức khoẻ cộng đồng thường quá khó để cung cấp bất cứ điều gì ngoại trừ việc điều trị có giới hạn.

Robot sẽ hỗ trợ ở mặt này và thậm chí, trong vài trường hợp có thể tốt hơn cả nhân viên vật lý trị liệu là con người, do chúng không biết mệt và đáng tin cậy. Chúng có thể giúp người bệnh tập luyện chân tay bằng cách chuyển động nhất quán và thực hiện đo lường khách quan về sự phục hồi.

Tuy nhiên, robot làm việc với con người theo những cách như vậy cần phải được đào tạo đặc biệt. Julie Shah, Trưởng nhóm robot tương tác tại Viện Công nghệ Massachusetts, cho biết còn chặng đường dài để cải thiện. Hầu hết các robot thực hiện các nhiệm vụ rõ ràng và trong phạm vi hẹp, do chúng chuyển động nhờ cảm biến để tránh va vào con người.

\”Robot cần nhận ra chúng ta hơn là một vật cản khi di chuyển xung quanh. Chúng cần phải làm việc với chúng ta và dự đoán được những gì chúng ta cần\”, bà nói.

Nghiên cứu những điều xảy ra trong nhà máy cho thấy, các ứng dụng robot thành công nhất được lập trình bởi sự cộng tác của kỹ sư và những chuyên gia thông thạo chính công việc đó. Để thực hiện điều đó dễ dàng hơn, bà Julie và các đồng nghiệp đang phát triển hệ thống AI có thể huấn luyện robot bằng cách sử dụng các lệnh ngôn ngữ tự nhiên.

Các chuyên gia tin robot sẽ nâng cao năng lực của con người, nhưng vấn đề là quy định có thể làm chậm trễ công nghệ. Tiến sĩ Johnson cho biết, cùng với Covid-19, vài bác sĩ lo ngại ngay cả việc sử dụng dịch vụ y tế từ xa rộng rãi cũng có thể ảnh hưởng đến bảo hiểm bồi thường thiệt hại, chứ đừng nói đến robot.

Và dù còn một chặng đường dài phía trước cho sự phát triển xe và xe tải giao hàng tự động, TS Christensen cho biết thật buồn cười khi một chiếc xe thử nghiệm chạy qua biên giới các bang ở Mỹ có thể phải tuân thủ các quy định giao thông khác nhau. Có vẻ như các nhà chế tạo robot và cơ quan quản lý còn phải họp nhiều lần mới xác định được cách thức máy móc và con người làm việc cùng nhau.

Phiên An (theo The Economist)