05/26/2022

Toàn cảnh quần vợt nữ thế giới qua bảng xếp hạng WTA 2021

Bảng xếp hạng cuối năm 2021 của quần vợt nữ thế giới (WTA) mới được công bố với những thống kê đáng chú ý.

Trong lúc WTA Finals 2021 diễn ra, bảng xếp hạng cuối năm của làng quần vợt nữ thế giới cũng đã được công bố. Đây là năm với nhiều sự kiện đáng chú ý, những biến động và cả những cú đột phá, có thể thấy qua những thống kê từ bảng xếp hạng (WTA Rankings).

Top 10

Số 1 – Ashleigh Barty: Năm thứ ba liên tiếp, Barty kết thúc năm ở vị trí số 1, bắt kịp các huyền thoại Steffi Graf, Martina Navratilova, Serena Williams và Chris Evert.

Số 2 – Aryna Sabalenka: Tay vợt 23 tuổi người Belarus trở thành tay vợt nữ thứ 33 kết thúc năm trong Top 2 kể từ khi bảng xếp hạng được giới thiệu vào năm 1975.

Số 3 – Garbine Muguruza: Sau 3 lần liên tiếp về đích trong Top 10 cuối năm (2015-17), danh hiệu WTA Finals 2021 đưa cô lên vị trí thứ 3 sau khi kết thúc mùa giải trước với vị trí số 15.

Số 4 – Karolina Pliskova: Đây là lần thứ sáu liên tiếp Pliskova về đích trong Top 10, chuỗi hoạt động dài nhất.

Số 5 – Barbora Krejcikova: Xếp hạng cuối năm tốt nhất trước đây của Krejcikova là thứ 65 (năm 2020). Cô là tay vợt duy nhất kết thúc năm trong Top 10 ở nội dung đơn (thứ 5) và đôi (thứ 2).

Các vị trí còn lại: Maria Sakkari (6) – tay vợt nữ Hy Lạp đầu tiên kết thúc năm trong Top 10; Anett Kontaveit (7) – vị trí cao nhất mà một tay vợt người Estonia từng đạt được; Paula Badosa (8); Iga Swiatek (9) – tay vợt nữ thứ hai người Ba Lan kết thúc năm trong Top 10, sau Agnieszka Radwańska; Ons Jabeur (10) – tay vợt nữ Ả Rập đầu tiên cán đích trong Top 10.

Top 100

17: Ở tuổi 17, 247 ngày, Coco Gauff người Mỹ là tay vợt trẻ nhất trong Top 100.

6: Có 6 tay vợt tuổi teen lọt vào Top 100 cuối năm – Leylah Fernandez, Marta Kostyuk, Camila Osorio, Emma Raducanu, Clara Tauson và Gauff.

4: Có 4 tay vợt lọt vào Top 50 ở cả nội dung đánh đơn và đánh đôi: Barbora Krejcikova, Elise Mertens (số 21 đơn, số 4 đôi), Veronika Kudermetova (số 31 và 14) và Katerina Siniakova ( Số 49 và số 2).

40: Ở tuổi 40, 50 ngày, Serena Williams (41) là người lớn tuổi nhất trong Top 100.

35: Các tay vợt đến từ 35 quốc gia góp mặt trong Top 100 (Mỹ dẫn đầu với 16 người).

25,2: Độ tuổi trung bình của Top 10 cuối năm là 25,2 tuổi, bằng với năm 2020.

Lần đầu lọt Top 100

17: 17 tay vợt nữ vào Top 100 lần đầu tiên vào năm 2021 – theo thứ tự thời gian, Clara Tauson (8.3), Tereza Martincova (5.4), Camila Osorio (24.5), Liudmila Samsonova (21.6), Anhelina Kalinina (12.7), Clara Burel (19.7), Mayar Sherif (9.8), Nuria Parrizas Diaz (16.8), Emma Raducanu và Greet Minnen (13.9), Elena-Gabriela Ruse (20.9 ), Magdalena Frech (18.10), Maryna Zanevska (1.11), Jaqueline Cristian (8.11) và Anna Bondar và Wang Xinyu (15.11).

3: 3 tay vợt tuổi teens lọt vào Top 100 lần đầu tiên là Tauson (18 tuổi, 77 ngày) là người trẻ nhất, tiếp theo là Raducanu (18 tuổi 304 ngày) và Osorio (19 tuổi, 153 ngày).

30: Ở tuổi 30, 32 ngày, Parrizas Diaz là tay vợt lớn tuổi nhất lọt vào Top 100 lần đầu tiên trong năm nay

5: Trong số 17 tay vợt ra mắt Top 100, 5 người đã giành được danh hiệu WTA 125 năm nay – Bondar, Frech, Parrizas Diaz, Sherif và Tauson.

Những tay vợt thăng hạng nhiều nhất

Ana Konjuh (+472 bậc, từ 538 lên 66)

Emma Raducanu (+324, 343 lên 19)

Beatriz Haddad Maia (+276, 358 lên 92)

Anna Bondar (+183, 273 lên 90)

Maryna Zanevska (+177, 258 lên 81)

Nuria Parrizas Diaz (+167, 232 lên 65)

Clara Burel (+158, 235 lên 77)

Camila Osorio (+131, 186 lên 55)

Claire Liu (+128, 222 lên 94)

Anhelina Kalinina (+110, 162 lên 52)

Clara Tauson (+108, 152 lên 44).

Những tay vợt giành nhiều danh hiệu nhất (tính cả đơn và đôi)

9 – Krejcikova (3 đơn, 5 đôi nữ, 1 đôi nam-nữ)

6 – Barty (5-1-0)

6 – Katerina Siniakova (0-6-0)

5 – Elise Mertens (1-4-0)

5 – Desirae Krawczyk (0-2-3)

5 – Shuko Aoyama (0-5-0)

5 – Ena Shibahara (0-5-0)

Những tay vợt giành nhiều danh hiệu đơn nhất

5 – Barty (1 Grand Slam, 2 WTA 1000, 2 WTA 500)

4 – Anett Kontaveit (2 WTA 500, 2 WTA 250)

3 – Krejcikova (1 Grand Slam, 2 WTA 250)

3 – Garbine Muguruza (1 Year End, 1 WTA 1000, 1 WTA 500)

Các danh hiệu quan trọng còn lại

Australian Open (Naomi Osaka), US Open (Raducanu), Olympic Tokyo (Belinda Bencic).